Searching...
Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

Mùa nước lên

Lại mùa nước lên, góc khắc khoải hoài niệm bến nước hồn sông. Tiếng bìm bịp, đâu như ở rặng trâm bầu, nghe sao dễ mềm lòng quá chừng, dù đó vẫn là tiếng kêu vẳng lại ở năm nào. Gợi nhớ mùa nước lên năm ấy, tự dưng nước đổ về nhiều quá, nước sũng đồng khi lúa mới trổ đòng đòng. Bất ngờ, đâu ai kịp xoay xở, mất lúa, thành đói ăn, nhớ mà sợ.
Giờ thì người miệt quê quen rồi, lũ về thì sống cùng lũ. Tâm tình con người đôi lúc cũng lưng chừng, giờ thì năm nào nước lên muộn hay nước thượng nguồn đổ về không nhiều, tự dưng người miệt quê nghe như hụt hẫng. Kỳ thiệt.
Nước lên, ngoài phù sa đem lại màu mỡ cho đất, con cá theo nguồn cũng quay về như từ quay quắt nỗi nhớ bến nước hồn sông. Người miệt đồng coi vậy mà giỏi thiệt, đâu chỉ có duy nhất con cá đồng làm họ lu bu. Ngoài con cá đồng bung đồng, cũng là mùa sinh sản của lươn. Chừng như người miệt quê bén nhạy với món ăn, nên cũng nhanh nhạy trong việc tìm bắt.
Lối bắt lươn bằng trúm không nhớ có tự khi nào, như từ cái nhanh ý, biết tập tính lươn là đói mồi. Tre vườn lại sẵn, làm trúm cũng dễ, sao không thử. Và khi nước dợm bung đồng, những ống trúm một thời ám khói ở góc bếp giờ như được đánh thức… đã hết thời ngủ Đông. Trúm của mùa cũ như thẫm đen thêm sau một thời ám khói. Trúm thường làm từ những đoản tre, dài quá thước một chút, nhưng không dài quá mà khó tìm nơi dìm trúm. Có được tre xiêm thì tốt, xài được nhiều mùa, ngặt nỗi ở quê tre xiêm lại dụng nhiều công, đặng giá bán. Chỉ những ai có trồng ở vườn nhà. Xài tre mở cũng được, ngặt nỗi không dao lóng. Chọn tre được rồi thì thông mắc. Hom cũng làm từ tre. Coi vậy mà cái hom tuy vụn vằn vậy đó lại là một góc trải nghiệm của người theo nghề lâu năm. Khéo hom thì khéo được lươn. Cái nết lươn như bao giờ cũng ưa chỗ um tùm. Người đặt trúm lâu năm thì biết tỏng. Chọn bờ ven rậm cỏ. Mương vườn nào có súng hoặc sen thì nhất rồi. Lung bàu lễnh loãng, bất đắc dĩ lắm người đặt trúm mới đặt.
Ảnh minh họa
Ngộ, mà ngẫm ra cũng không ngộ, vì đâu có gì có được từ cái rỗng không đâu. Như lẽ thường đời thường, có bánh ít đi thì có bánh quy lại. Trúm đặt phải có mồi. Mồi cũng giản đơn. Cơm nguội quết trộn cua giả thêm cám và ít ngủ vị, rồi vò cục. Đặt trúm phải biết cách, không biết thì hỏi. Không ai đặt ngập trúm, cấm cọc cho nghiêng trúm, đầu trúm để nổi một chút, vì ngập trúm lươn sẽ ngợp.
Như lẽ đời thường, cái gì cũng có cái giá của nó, dụ lươn, có gì bằng trộn mồi với bả “A ngùy”, cái thứ quỉ gì mùi hăng hăng, thum thủm khó chịu thấy mồ mà lươn lại ưa. Ngặt nỗi lươn ưa, rắn độc cũng ưa, ngẫm ra mọi lẽ đều có cái đoản của nó.
Ngoài trúm, người bắt lươn còn có nhiều cách để bắt nữa. Như câu lươn, câu cũng cần quen nghề, phải biết cách tìm hang, phải biết cách chọn lưỡi. Thụt hang thì khi có khi không. Dồn mô cũng được, gom cỏ rồi thả lều bều cập mé, ngặt lươn mô thường nhỏ, đôi lúc là lịch, họ nhà lươn nhưng tí tẹo hình vóc.
Con lươn với người miệt đồng coi quê mộc vậy nhưng đôi lúc lại là một góc nghĩa tình. Cầm trên tay con lươn tròn mẩy, thẫm vàng, đứa con biết nghĩa, chợt nhớ còn đó cha đang luống tuổi, lươn thịt mềm lại nhiều nạt, thôi thì um sả cho ổng, thêm cho ổng cốc rượu nếp than, chắc ổng sẽ vui. 
Ở quê lắm cỏ dại, lắm lúc bực mình vì quá um tùm, chỉ tại nhiều việc cái vụn vặt đôi khi bị bỏ lơ. Vậy mà cũng có loài dây hữu dụng, như dây lạc tiên, dân gian gọi dây nhãn lồng. Chắc gọi theo con nít, con nít thấy ngộ ở cái bọc bao như lưới trăng trắng ôm bọc ngoài trái, tụi nhỏ hay lặt ăn khi trái ngả vàng, cũng ngọt ngọt. Lạc tiên cuộn dây đem phơi khô rồi hãm như hãm trà, hoặc bỏ nồi nấu, dể cho giấc ngủ ở người già. Cũng loại dây dại đáng ghét, như dây giác, quên lửng cắt, dây mặc sức bò lan, nhất là lúc sa mưa. Ngặt nỗi, trái giác khi ngả màu thẫm tím lại có vị chua thanh. Lươn mà nấu chua với trái giác ngon kỳ cục. À mà, nhớ có lần mẹ cũng với trái giác mẹ kho ơ cá rô mề, tự dưng  bữa cơm chiều sớm lưng nồi. Không tin, thử ăn đi một lần để nhớ.
Người miệt quê, tuy quen với mộc mạc chân quê, nhưng bất ngờ gặp cái trớ trêu cũng chạnh lòng. Nhớ lần theo cậu về thành phố. Cậu dẫn đi ăn. Ngẫu nhiên, ngồi cạnh bàn khách, chắc gia đình người của thành phố, chưng hửng khi nghe gọi món “lươn dồi”. Tò mò một phần, thôi thúc một phần, buộc nhìn ngoái sang, thấy khúc lươn vàng ngậy nằm trịnh trọng ở lòng dĩa men trắng. Tự dưng ngậm ngùi.
Thắt lòng, thoáng thôi, lại thoáng vui khi món ăn miệt đồng không còn hẩm hiu thân phận với miệt đồng mà đã là món ngon với người thành phố. Chỉ có chút chạnh lòng, món ngon miệt đồng mà người miệt đồng lại chưa hề dám nghĩ làm món “dồi lươn” để ăn.
Thoáng buồn, lại thoáng vui, buồn là buồn cái éo le với người miệt đồng, vốn chắt chiu nên món ngon ở đồng người đồng không nghĩ làm ra để ăn. Vui là món ăn vốn quê mùa, giờ là đặc sản với người kẻ chợ.
Người miệt quê vốn hiền từ, vốn quen gần gũi hương đồng gió nội, chỉ một thoáng quê thôi cũng đủ để người miệt đồng khắc khoải với nỗi nhớ đồng. Như chỉ cần ngần ấy cũng đủ để người đồng không nỡ xa đồng, khi còn đó nỗi vương vấn bến nước hồn sông.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét